Phong tục tập quán

Sự tích về người nữ anh hùng Chầu Đệ Tứ

Tử vi năm 2020
Đang tải...

Chầu Đệ Tứ là vị Nữ Thần đứng hàng thứ tư trong hàng các Chầu bà. Bà được dân gian coi là người hầu cận, hay hóa thân của Mẫu Địa Tiên (Liễu Hạnh Công Chúa). Ngoài ra, dân gian còn đồng nhất bà với một vị tướng dưới trướng Hai Bà Trưng.

Sự tích về người nữ anh hùng này được Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính ghi chép lại trong cuốn “Di tích và đền miếu nữ danh nhân Việt Nam”

Theo tài liệu thì tại xã Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang xưa (nay là xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội ) có ông tù trưởng tên là Đặng Công Thành kết duyên cùng bà Lý Thị Ngọc. Ông bà vốn là người tu nhân tích đức, luôn làm việc phúc cho nhân dân trong vùng. Ông bà sinh được 5 người con trai. Sau khi chồng mất bà ở vậy một mình nuôi dạy các con trưởng thành.Sống trong chế độ tàn bạo của quân nhà Hán, bà sớm nuôi ý chí yêu nước và truyền dạy tấm lòng yêu nước cho các con. Khi các con đã khôn lớn, mẹ con bà đã vận động nhân dân trong vùng xây dựng đồn binh, ngày đêm luyện tập quân sỹ, tích luỹ quân lương. Khi nghe tin Thái thú Tô Định đem quân về đàn áp bà đã cùng các con lãnh đạo quân sỹ chiến đấu tiêu diệt hàng trăm quân giặc. Do không cân sức mẹ con bà đã phải lui quân về chùa Hương, khôi phục lại lực lượng.

chau-ba-de-tu-kham-sai

chau-ba-de-tu-kham-sai

Nghe tin Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa, bà cùng các con cất quân về tụ nghĩa. Thấy mẹ con bà có khí phách phi thường thì Hai Bà Trưng mừng lắm và phong cho bà là Lý Thị Ngọc Ba – ý muốn tôn sùng lãnh tụ khởi nghĩa đứng đầu là Trưng Trắc, sau là Trưng Nhị và thứ ba là Lý Thị Ngọc Ba.

Sau khi tế cờ ở Hát Môn, Hai Bà Trưng xung trận, các đạo quân đều tả xung hữu đột, chống trận vang trời, quân Tô Định bị bại trận, nghĩa quân Hai bà thu phục được 65 thành.

Trưng Trắc xưng vua, Trưng Nhị được phong là Bình Khôi Công chúa và bà Lý Thị Ngọc Ba được phong là Chiêu Dung Công chúa. Sau chiến thắng, bà được Hai Bà Trưng thưởng tiền và phong cho vùng đất Kim Cốc làm đất thang mộc.

Từ đó, bà cùng các con tổ chức cho nhân dân trong vùng làm ăn xây dựng quê hương. Tương truyền, vào một hôm (ngày 6 tháng chạp) trời đất bỗng mây mù kéo đến, gió cuộn lên cả một vùng sông Đáy, người ta thấy mẹ con bà xuống thuyền. Khi sóng yên, gió lặng chờ mãi không thấy mẹ con bà trở về, biết mẹ con bà đã hoá, Hai Bà Trưng vô cùng cảm kích nên lệnh cho dân trong vùng lập miếu, xây đình để thờ phụng mẹ con bà.

Kể từ đó, để tưởng nhớ đến công lao của bà và các con nhân dân trong vùng lấy ngày mùng 6 tháng chạp hàng năm là ngày giỗ cùng là ngày hội của dân làng Kim Cốc. Dưới thời Lê Trung Hưng, vua đã từng cử đại thần về đây làm lễ dâng hương để tưởng nhớ công lao của bà và các con.

Đang tải...

Công lao của bà như vậy nên bà đã được đưa vào hệ thống thánh Chầu trong Tứ phủ. Bà là Chầu đệ Tứ Khâm Sai. Đền thờ bà còn ở Quý Hương, An Thái, Vụ Bản, Nam Định

de-tu-kham-sai

de-tu-kham-sai

Chầu Đệ Tứ Khâm Sai. Vốn xưa bà là Bồng Lai Tiên Nữ (có tài liệu ghi rằng bà là Mai Hoa Công Chúa trên Thiên Cung).

Bà giáng thế hạ trần (có sách nói rằng bà giáng vào nhà họ Lí, tên là Lí Thị Ngọc Ba), sinh quán ở đất Quý Hương, An Thái, Vụ Bản, Nam Định, sau đó trở thành vị nữ tướng, tương truyền chầu là người khảng khái, chính trực, ra trận nếu có kẻ nào làm sai phép quân thì “tiền trảm hậu tấu” (chém đầu kẻ đó trước sau rồi mới về tâu với vua), nhưng đã có công giúp vua ra dẹp giặc và trấn giữ ở vùng Hà Trung, Thanh Hóa nên được sắc phong là Chiêu Dung Công Chúa. Sau này khi trở về Thiên Đình, bà được giao quyền khâm sai Tứ Phủ (từ Thủy Phủ cho tới Thiên Cung), Tam Tòa, biên chép sổ Thiên Đình, quyền cai bản mệnh gia trung (vậy nên có khi người ta còn gọi là Bà Thủ Bản Mệnh). Có khi chầu lại được coi là vị chầu bà giữ sổ Tứ Phủ, coi kho ngân xuyến, kề cận bên Mẫu Liễu Hạnh ở đất Phủ Dày. Đôi khi thanh nhàn, chầu truyền các tiên nàng dạo chơi khắp chốn, từ quê hương ra kinh thành, vân du khắp mọi nơi.

Chầu Đệ Tứ cũng ít khi về ngự đồng. Người ta thường hay hầu chầu khi về đền thờ chầu hoặc đất Nam Định (là nơi chầu kề cận Mẫu). Thường thì khi có đàn mở phủ mà đồng tân dâng bốn tòa Sơn Trang thì thỉnh chầu về chứng tòa màu vàng. Khi chầu ngự về mặc áo màu vàng, cầm quạt khai cuông rồi thường múa kiếm và cờ lệnh (chầu ra trận hoặc cầm cờ hiệu khâm sai), cũng có nơi hầu Chầu về múa quạt, múa mồi hoặc chỉ khai cuông rồi an tọa (điều này là do tập tục từng nơi).

Đền Chầu Đệ Tứ cũng được lập ở ba nơi: đầu tiên là Phủ Bà _Chầu Đệ Tứ nằm trong quần thể Phủ Dày (vì coi là chầu cận Mẫu) thuộc Vụ Bản, Nam Định (đồng thời là nơi quê nhà của chầu), tiếp theo là Đền Cây Thị_Đền Chầu Đệ Tứ thuộc Hà Trung, Thanh Hóa (là nơi chầu dẹp giặc) và ngoài ra ở Hà Nội còn có ngôi đền thờ vọng chầu ở bên bờ sông Hồng, gần cầu Chương Dương, Gia Lâm gọi là Đền Duyên Trường_Đền Chầu. Theo một tài liệu ghi lại thì ngày chính tiệc của Chầu Đệ Tứ là ngày 14/3 âm lịch. Khi chầu ngự về, văn hay hát rằng:

Chầu Đệ Tứ
Đấng Nam thiên nữ trang Nghiêu Thuấn
Đất Sơn Nam có đấng trâm anh
Quý hương An Thái xã danh
Có chầu đệ tứ hách danh còn truyền
Điều thời phụng sắc Hoàng thiên
Ngự đồng ánh bóng khắp miền gần xa
Ra uy sát quỷ trừ tà
Chiêu tài tiếp lộc gần xa cho đồng
Khâm sai tứ phủ tuỳ tòng
Chiêu Dung công chú ngự đồng cứu dân
Trong nghĩa thân ngoài thời nghĩa dưỡng
Nương uy trời độ lượng bao dung
Mặt hoa tươi tốt má hồng
Gồm lo tứ đức tam tòng vẻ vang
Mày ngài tóc phượng vấn vương
Lưng ong má phấn xem càng tốt tươi
Miệng chầu cười trăm hoa đua nở
Đáng lên tài tiên nữ bống lai
Vào tâu ra rộng khoan thai
Đã trong hiển ứng lại ngoài tối linh
Chốn thiên đình ca ngâm chầu chực
Các bộ nàng tiên nữ dâng hoa
Chầu thôi lại trở ra về
Khi ra Thiên Bản lúc về Đồi Ngang
Miếu giữa đường gia ban sắc chỉ
Bốn chữ vàng chính khí nghiêm trang
Lân vờn phượng múa nhà vàng
Thị tòng bộ chúng các nàng đôi bên
Có phen lên thanh sơn tú thuỷ
Hoá phép mầu lục trí thần thông
Quản cai tam phủ công đồng
Quyền chầu coi sóc đền rồng vào ra
Sổ tam toà chép biên sau truớc
Lại sửa sang gương lược trầu cau
Dù ai tiếp cũng khẩn cầu
Quyền chầu ra rộng vào tâu thông hành
Lên thiên đình ngự về thuỷ phủ
Tiến văn chầu kích cổ tam không
Mời chầu trắc giáng điện trung
Hay còn nam bắc tây đông chốn nào
Trên thiên tào còn đang tra sổ
Hay chầu còn đổi số cho ai
Có phen chơi cảnh bồng lai
Hay về An Thái là nơi quê nhà
Có phen ra kinh đô thành thị
Vào kính thiên toạ vị hồng lâu
Rong chơi năm cửa nhà lầu
Hay chơi Phố Mới,cầu Châu,cầu Rền
Lên trên đến Cầu Đông,cầu Giác
Trở ra về Hàng Bạc, Hàng Ngang
Hàng Buồm chầu lại dạo sang
Mã Mây,Phố Mới,Hàng Đường,Đồng Xuân
Dạo chơi khắp hết xa gần
Hàng Đồng,Hàng Thiếc,Hàng Cân,Hàng Đào
Chợ huyện,Chùa Tháp,Đình Ngang
Cấm chỉ,đền Cờn các vạn dưới sông
Có phen chầu ngự thuyền rồng
Qua hồ Trúc Bạch lại dong Tây Hồ
Lệnh truyền tiên nữ chèo đua
Qua đền Trấn Võ lên chùa Huyền Thiên
Vực Kim Ngưu có đền An Thái
Cảnh hội đồng có dải Tô giang
Thiên Tích chầu lại dạo sang
Sai các tiên nàng chầu chực dâng hoa
Phút thôi chầu chở ra về
Ngự trong bản điện sớm khuya hội đồng
Có phen chầu ngự đường trong
Dạo khắp phủ tía lầu hồng vào ra
Có phen chơi Đồi Ngang,Phố Cát
Đứng nhởn nhơ bóng mát cây cao
Nghệ An chầu lại từng vào
Dạo chơi các chốn lầu cao Kinh Thành
Có phen chầu chực tỉnh Thanh
Sòng Sơn Ba Dội tập tành vui chơi
Thường vãng lai bán hàng chiều khách
Thấy ai là ngang ngược ra tay
Mặc ai phù phép tìm thầy
Thành tâm lễ bái chầu dày lại tha
Lòng kính chúc hương hoa tịnh thuỷ
Hoá phép màu lục trí thần thông
Kiêm tri tam phủ công đồng
Tốc lai giáng hạ từ trung thay là

Đang tải...

Bình luận